Tịnh độ.
Mời các bạn cùng với Thằng ngọng tôi xuống Bảo lộc (cách Đà lạt khoảng 100 cây số) dự một đám cưới chưa từng có trong lịch sử. Anh em Đà lạt đã cố gắng bỏ thời giờ xuống tổ chức một đám cưới tại vùng kinh tế mới Lộc Ngải. Vùng này được đặt tên theo hai chử cuối của hai địa danh : Bảo-Lộc và Quảng Ngải.
Dân chúng được dời từ Quảng Ngải vào đây vào năm 1975-1976. Họ chịu khó trồng trọt và khai phá rừng với những dụng cụ canh nông thô sơ như: Dao, rựa được rèn từ mảnh bom, đạn pháo kích. Họ chỉ canh tác vào mùa mưa. Mùa nắng, họ vào rừng thồ củi bằng xe đạp ra Bảo Lộc bán. Đi và về gần 60 cây số để "chạy gạo" hàng ngày. Đôi khi được hên, nếu có người bán hết sớm, thì họ lại chạy ngay vào rừng lại để đi chuyến thứ hai. Như vậy trong điều kiện trên họ có thể đi bộ và đi xe đạp cả trăm cây số để kiếm sống qua ngày. Và phải làm bảy ngày trong tuần... Ngừng lại là chết đói liền, chẳng may bị bịnh là coi như tiêu. Ngày qua ngày, họ đã có thể thoải mái đôi chút tới khi anh em từ Đà lạt xuống để tổ chức đám cưới cho anh Đ.
Ông sui là một tay anh chị khét tiếng ở Quảng ngải. Tuy là trẻ tuổi nhất trong nhóm bô lảo nhưng lại là người cầm đầu. Có chuyện gì mà kêu ổng là "xong ngay".
Thằng ngọng tôi vừa mới xuống là được ổng đề nghị:
– "Tôi không biết ông là ai, nhưng nếu ông muốn thì tôi có năm chỉ vàng đây, ông ở lại đây tôi mua miếng đất kế bên, con cái tôi sẽ lo buôn bán. Ông chỉ lo vấn đề tu hành thôi, khỏi lo đời sống. Ông thấy thế nào?
Thằng ngọng tôi chới với trước đề nghị thẳng thắng đó:
– "Dạ thưa Bác, con còn vợ và hai đứa nhỏ nữa. Riêng con thì có thể được, nhưng phải thông qua ý của nội tướng đã."
– "Chú mầy nói đúng đó, cái gì cũng phải có vợ có chồng mới nên".
Đó là hai câu độc nhất có liên quan đến đời sống, sau đó là đủ thứ câu hỏi về phương pháp tu hành... Và không biết bao nhiêu là cái "tại sao". Có những cái "tại sao" rất hay:
– "Tại sao tôi thấy cái này cái nọ mà người khác không thấy"?
– "Tại sao tôi mơ thì lại rất đúng sự thật mà người khác lại không"?
– "Bao giờ mình biết đã tu xong rồi"?
– "Tại sao tôi thấy tôi bay và có thể đi đây, đi đó khi tôi ngủ. Cái gì bay"?
– "Tại sao người ta tu lại bị khùng"?
– "Thầy của ông ù (họ thường gọi tôi là như vậy) là ai"?
– "Chơi bùa, chơi ngải với cái này khác nhau như thế nào"?
– "Tại sao người ta lên đồng lên bóng"?
– "Tại sao họ học thần quyền, cái gì làm cho họ múa vỏ"?
Mỗi câu hỏi đều được trả lời chính xác và rõ ràng nếu có thể Thằng ngọng tôi đều dẩn chứng cụ thể. Câu chuyện rất sôi động cho tới lúc có tiếng thông báo của đám trẻ em:
– "Anh Ba về, anh Ba về".
Khi nghe đến đó, trong tâm Thằng ngọng tôi dâng lên một nổi vui mừng không tả được!
– "À! Đây rồi 4 !"
Chỉ có một mình tôi là nhận ra người bạn cố tri từ ngàn xưa. Còn bây giờ, Anh mĩm cười nhìn tôi đười ánh đèn dầu mờ ảo mà không nhớ được gì cả. Tôi xúc động, cắt ngang câu chuyện đang dở dang:
– "Ông muốn chơi trò chơi này không"?
Ba Danh trả lời rất nhỏ và rỏ:
– "Tội chó gì mà không chơi"?
Thằng ngọng tôi nói rất là lưu đạn:
– "Ông mà chịu chơi thì tôi chịu chơi với Ông. Tụi mình sống chết có nhau, Ông ráng tập cho xong và hướng dẩn họ nghe, ôkê"?
– "Ôkê".
Và câu chuyện tiếp diển vui vẻ và sôi động. Đám trẻ em ngồi chầu rìa. Người lớn tuổi im lặng nghe. Có người đồng ý, có người không.
– "Ai không đồng ý hay không hiểu thì hỏi thoải mái. Hỏi cho tới khi nào vừa ý mình thì thôi. Ai muốn hỏi mà không dám phát biểu, cứ nói với người kế bên, rồi yêu cầu người kế bên nói to lên cho anh em nghe. Khi đang nghe nói chuyện, có điều gì không hiểu, cứ cắt ngang câu chuyện mà hỏi ngay. Nếu không anh em sẽ quên đi uổn lắm. Con xin nói lại cho rõ là: Tất cả các câu hỏi đều phát xuất từ sự thắc mắc, muốn hiểu biết. Nên không có vấn đề phiền hà ai hết ..."
Được khuyến khích, họ hỏi lung tung, hôm đó Thằng ngọng tôi trả lời muốn khùng luôn... Cho tới gần sáng, Thằng ngọng tôi mới yêu cầu lên nhà Ba Danh để đi ngủ. Thì nguyên cả anh em trong nhóm của Ba Danh đi theo không ai chịu về nhà cả, còn những người lớn đi về, ra điều không bằng lòng cho lắm.
Thằng ngọng tôi thấy một điều: Hình như anh em ở đây họ không biết mệt hay sao đó. Nhà Ba Danh rộng có gác do chính tay Ba Danh cất bằng cách vào rừng cưa gổ từng cái cột, từng miếng ván thồ bằng xe đạp về. Gia đình gồm một vợ và một đứa con gái nhỏ. Theo nguyên tắc nói chuyện đạo, người tới trể sẽ được anh em nói lại nên Thằng ngọng tôi lại một lần nữa tóm tắt lại tất cả những câu hỏi cho anh em nghe.
– "Tại sao tôi thấy cái này cái nọ mà người khác không thấy"?
Có năm trường hợp thấy:
1. Nằm mơ thấy tầm bậy tầm bạ không đúng sự thật.
2. Nằm mơ thấy gần đúng và đúng sự thật.
3. Khi tập thì thấy tùm lum, nhiều hình ảnh lẩn lộn, không có chủ đích và chủ đề.
4. Lúc tập thì thấy rất rõ và đúng sự thật, lúc không tập thì không thấy gì cả.
5. Muốn thấy thì thấy, không muốn thì thôi.
Phân tích cặn kẽ hai trường hợp đầu tiên (1., 2.) chúng ta thấy rằng: Trong điều kiện vô minh, con người có hai phần: Phần xác và phần hồn. Linh hồn là một thể xác khác ở dạng khí nên mắt thường ít khi thấy được. Thể xác đặc biệt này đôi lúc cũng trang phục như người thường ... Đôi lúc, linh hồn cũng có thể thấy được sinh hoạt quanh cảnh giới mình:
Do thường suy nghĩ và hành động đê hèn như dành giật, chèn ép, cướp của, giết người, tóm lại sống một cách tiểu nhân thì khi ngủ do định luật cộng hưởng hay "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Thể xác không bao giờ yên ổn đó có rất nhiều cơ hội để cho linh hồn tiếp xúc với các cảnh giới thấp nên thường có ác mộng y như Thằng ngọng tôi cũng đã từng bị một thời gian rất dài.
Khi chúng ta ngủ, linh hồn đi đây đi đó có khi "bà Rá nhập ông Địa" linh hồn nhờ có một ít thanh tịnh lại lọt vào được các cảnh thiền nên có thể thấy được một ít sự thật ở một tương lai gần. Vì còn vô minh, không tự chủ được, nên chỉ có thể thấy một chút gì đó mà thôi. Và trước khi thể xác tỉnh lại, hệ thần kinh "dịch lại" các hình ảnh do linh hồn thấy được. Có hai trường hợp xảy ra:
1. Do sinh hoạt hàng ngày quá náo nhiệt, quá căng thẳng, thần kinh bị giao động, không thanh tịnh nên đã dịch sai sự thật, kết quả là: Không thể thấy đúng được. Bởi vậy tất cả tôn giáo lớn đều khởi bằng cách khuyên người ta nên làm việc thiện như: Bố thí...
2. Do suy nghĩ lành, ít bon chen, ít chửi lộn, ít nói bậy, ít bàn chuyện người, và nhất là ít hay không hề nghĩ ác.... Thần kinh ít bị giao động nên có thể dịch lại rất đúng và do đó có thể thấy sự thật. Bởi vậy tất cả tôn giáo lớn đều khởi bằng cách khuyên người ta nên làm việc thiện như: Bố thí... Trì giới... Tinh tấn... Thiền định... Trí tuệ.
Lại tiếp tục phân tích ba trường hợp cuối (3., 4., 5.), chúng ta thấy đây là những cái đặc biệt của tu sĩ mà người thường ít khi có được: Khi họ tập thì họ thấy một cái gì đó. Trường hợp (3) là cái thấy của "Cận định" (hoàn toàn do ảo giác chi phối nên không dùng được). Cái gì cho họ thấy? Cơ chế hoạt động của "cái thấy" ra làm sao? "Cái thấy" đúng (khi tu sĩ giữ đúng giới luật, nếu không sẽ bị ma nhập hay ma cho thấy.) nằm ở trung tâm năng lực Ajna5 , y như một màn ảnh tivi. Các trung tâm năng lực khác đều là những máy chiếu phim. Do đó nếu được tập đúng, ta thấy rằng:
Từ Chư thiên Sơ thiền đến Tứ thiền, tu sĩ thấy "ngang tầm nhìn". Từ Tha hóa tự tại trở xuống A-tỳ địa ngục tu sĩ lại thấy có "một độ dốc âm" càng lúc càng sâu so với tầm nhìn ngang.
Dỉ nhiên đối với chư Phật hay chư Bồ tát thì chúng ta "như phải hơi ngước lên" để nhìn vì lúc đó trung tâm "Nghìn cánh hoa sen" (thứ 7) chiếu phim cho trung tâm Ajna (thứ 6) coi.
Chúng ta nên thận trọng khi thí nghiệm và sử dụng các trung tâm năng lực vì chỉ cần sai một tý thôi. Chúng ta sẽ mất đi rất nhiều thời gian để phục hồi lại hoạt động các trung tâm đó. Có lúc phải mất đi cả chục kiếp, để trả giá sự sai lầm của mình... Nên một lần nữa, Thằng ngọng tôi với tất cả sự thành tâm và thành thật cố gắng nhắc lại một lần nữa: Đừng nên thí nghiệm và cho chạy hay tập mở tầm bậy tầm bạ (theo cách suy luận đầy vô minh của mình, theo các sách vở hay theo mấy ông thầy dõm) các trung tâm năng lực mà không có người có nghề (đã đắc pháp) ở kế bên... Vì mỗi cá nhân đều là một trường hợp đặc biệt, không thể lấy cái chung mà áp dụng cho mình được. Ví dụ như ứng với người này trước khi khai mở Ông Thầy phải cho họ làm việc thiện bằng cách đào 50 cái giếng cho dân địa phương. Ứng với người kia, Ông Thầy lại phải chửi mắng như con chó, có khi tệ hơn nữa: Ông đánh đập và đày đọa họ thật đau khổ trước khi tập khai mở. Có người, Ông Thầy phải lập nguyên một lâu đài bằng vàng... Có người Ông Thầy phải ngủ chung với họ... Có nhiều người, Ông Thầy phải đến nhà ăn cơm ... Có nhiều người, Ông Thầy phải đem một người đã tu thành công đến nhà ...Có những người phải dùng âm thanh (Thần chú) để khai mở... Có nhũng người, Ông Thầy phải dùng hình ảnh quán tưởng để tập khai mở... ... Vậy thì với cách nào mình có thể khai mở được đây? Tốt nhất nên thận trọng, nên nhớ rằng nếu mình tu giỏi thì họ sẽ tới chỉ cho mình, không lo gì hết. Đó là kinh nghiệm của Thằng ngọng tôi...
– "Bao giờ mình biết là tu đã xong"?
Đối với đạo Phật, chúng ta phải đầu tư vào sự Giải thoát. Và chúng ta phải đi đúng hướng. Cung cách tu của chúng ta, là một phương pháp tu hành có sau khi Phật Thích Ca đã "biểu diển nhập Niết bàn". Và nếu chúng ta có nghiên cứu các kinh sách, chúng ta nên để ý đến "Bốn điều đối chiếu" mà Phật Thích Ca đã lo xa và có giảng cho các tu sĩ thời bấy giờ. Phật dặn rằng: "Sau này, khi tôi nhập diệt. Sẽ có rất nhiều phương cách tu hành, hay các lý luận khác nhau được nói lên do các tu sĩ lảo thành, các Thầy trù trì các chùa lớn, hay được tuyên xưng do một hay nhiều nhóm đông đảo những người tự nhận là được chân truyền từ hoá thân của một đức Phật... Thì các ông đừng coi thường, hay cũng đừng bỏ qua một bên, mà hảy đem kinh sách ra so sánh kỹ lưỡng, so sánh từng câu, từng chử. So sánh từng đoạn, từng chương coi những chử và những đoạn văn đó, hay những lời lý luận đó có đúng với "Kinh, Luật, Luận" mà tôi đã nói qua không? Nếu những chử, đoạn văn, những chương đó không đúng ý như trong "Kinh, Luật, Luận" thì các ông biết rằng: "Đó không phải là lời Phật". Các ông nên bỏ qua một bên.
Còn nếu sau khi so sánh kỹ lưỡng, so sánh từng câu, từng chử. So sánh từng đoạn, từng chương coi những chử và những đoạn văn đó, hay những lời lý luận đó đúng với ý "Kinh, Luật, Luận" thì các ông biết rằng: "Đây hẳn phải là lời của Phật" Và các ông cứ y theo đó mà làm6 .
Y cứ vào lời nói bất hủ trên, chúng ta nên thận trọng khi lựa chọn một phương pháp tu hành.
Vả lại, nếu chúng ta để ý tới lúc Phật Thích Ca nhập diệt, Anan đã được một vị A la hán dùng Pháp nhãn tường thuật lại kỹ lưỡng công thức nhập Niết bàn như sau:
"...Thầy đang nhập Sơ thiền... Xuất Sơ thiền, nhập Nhị thiền... Xuất Nhị thiền, nhập Tam thiền... Xuất Tam thiền, nhập Tứ thiền... Xuất Tứ thiền, nhập Không vô biên xứ... Xuất Không vô biên xứ, nhập Thức vô biên xứ... Xuất Thức vô biên xứ, nhập Vô sở hửu xứ... Xuất Vô sở hửu xứ, nhập Phi phi tưởng xứ... Xuất Phi phi tưởng xứ, nhập Diệt thọ tưởng định... Xuất Diệt thọ tưởng định, nhập Phi phi tưởng định... Xuất Phi phi tưởng định, nhập Vô sở hữu định... Xuất Vô sở hữu định, nhập Thức vô biên định... Xuất Thức vô biên định, nhập Không vô biên định... Xuất Không vô biên định, nhập Tứ thiền... Xuất Tứ thiền, nhập Tam thiền... Xuất Tam thiền, nhập Nhị thiền... Xuất Nhị thiền, nhập Sơ thiền... Xuất Sơ thiền, nhập Nhị thiền... Xuất Nhị thiền, nhập Tam thiền... Xuất Tam thiền, nhập Tứ thiền... Thầy liền nhập diệt".
Theo ý Thằng ngọng tôi, đây là một phương pháp độc nhất để thành Phật. Nếu có một cách nào khác để thành Phật hay hơn thì Thằng ngọng tôi nghĩ rằng: Phật Thích ca chỉ là một tên điếm mà thôi, vì ông không nhiệt tình chỉ dạy chúng ta.
Và nếu thật có một cách khác để thành Phật mau hơn thì tất cả các kinh sách mà Phật đã cố gắng hết sức giản dạy cho ta trong vòng 49 năm trời đều không có giá trị và Phật Thích ca không phải là chơn sư. Lúc đó chúng ta có quyền chửi và coi thường ổng như là một tên giấu nghề...Và nếu thật có một phương pháp nào hay hơn để thành Phật thì Thằng ngọng tôi xin những người đã đắc pháp đó rằng: Ông đã thành Phật chưa? Nếu rồi thì Ông đã biết gì về phương pháp này? Nếu rằng: Ông chưa biết thì không đúng, vì: Nhờ vào phương pháp của Ông mà Ông đã được "nhất tâm bất loạn" thì Ông phải biết phương pháp này. Vì chỉ khi thành Phật mới "nhất tâm bất loạn" mà thôi, vã lại Phật là "Đại giác" là cái gì cũng biết... Hay là Ông cũng là hội viên của những đám người tụ họp lại, ăn nhậu, uống trà, miệng cười ha hả, nói chuyện Thiền: "Tức tâm thành Phật", "Đối cảnh nhất định không có sinh tình", "Tuỳ duyên bất biến", "Thường lạc ngã tịnh"... ... Mới nhìn qua thì có vẻ như là đã giải thoát rồi. Nhưng nhìn kỷ lên bàn thờ, thì: Ông nội làm chó trong nhà... Bà nội làm gà đải khách... Ông cậu là ma đói lang thang không nhà không cửa... Còn Ông thì lại vô minh u tối mà lại hể mở miệng ra là: Phê bình người này, chê bai người kia, cho rằng ai cũng tà chỉ có ta là chính đạo... Đó là chuyện phương pháp tu.
Tiếp đến là chuyện: Làm sao biết mình tu đã xong? Đối với Thằng ngọng tôi, khi vừa vào Diệt thọ tưởng định thì một tư tưởng "đi xuyên qua đầu" Thằng ngọng tôi như sau: "Tu đã xong, tập đã thành, tôi làm việc tôi làm"7 !
Dĩ nhiên, trước cái hôm đó, Thằng ngọng tôi lúc nào cũng nghi ngờ: Không biết, mình có thật đúng là đang đi trên con đường thành Phật không? Lúc nào cũng hoang mang cho tới lúc và sau thời điểm vào được "Diệt thọ tưởng định" thì mới hoàn toàn dứt...
Vì vậy Thằng ngọng tôi, cũng không lấy làm lạ khi các ông nghi ngờ phương pháp này... Nhưng nếu có nghi ngờ thì hảy "nghi ngờ tích cực" có nghĩa là tu thử xem có ép phê không? Nếu chỉ nghi ngờ xuống thì tội quá! Ngồi đó mà bàn thì không biết khi nào mới xong?...
– "Tại sao tôi thấy tôi bay, cái gì bay"?
Do bị bịnh tim, hay mơ thấy mình bay. Do tu xuất hồn, cũng có thể thấy mình bay. Nhưng tu như vậy mất nhiều thì giờ. Vì tự ái được thỏa mản nên không còn nghĩ đến chuyện giải thoát nữa. Vậy, chúng ta bị chậm trể vì: Đó là cách tu của "chư tiên"8 ... Nguyên tắc là không cho xuất hồn một cách tự tiện, bằng cách tập "hộ thân", việc này rất thường xảy ra khi tu sĩ tới Tam thiền... (Xem kỷ lại phương pháp "Hộ thân" có nói rất rõ ở phần bàn về cách tu)
– "Tại sao người ta tu lại bị khùng"?
Trong kinh Phật, Thằng ngọng tôi không hề thấy có chử: "Tẩu hỏa nhập ma", không hề thấy có câu: "Coi chừng bị khùng khi tu đến đây"... Đó là một vấn đề then chốt mà ít ai để ý đến.
Nhưng trên thực tế, chúng ta thấy: Có người bị khùng trong giới tu sĩ. Như vậy, thực tế và lý thuyết không ăn khớp nhau... Thằng ngọng tôi đã từng hỏi nhiều tu sĩ nhưng không được giải đáp thỏa đáng. Vì thế, Thằng ngọng tôi không ngạc nhiên khi có một số rất đông người cho rằng: "Coi chừng bị khùng khi tu đạo Phật"! Một số lại cho rằng: "Thực tế chúng tôi không thấy ai đắc đạo sau đức Phật Thích Ca. Nên chúng tôi muốn lắm, mà thật sự chúng tôi không biết cách nào để tu thành cả"! ...
Thật ra, không có gì huyền bí hay khó khăn trong vấn đề trên: Nếu chúng ta để ý và đọc kỹ lưỡng vài tập kinh, chúng ta sẽ thấy rằng: Tất cả các kinh của tất cả các đạo điều nói: "Làm lành tránh dử". "Kẻ nào cho tất cả sẽ nhận được tất cả". "Kẻ nào làm chủ được tu tưởng sẽ làm chủ được tất cả"... Đó là con đường độc nhất để “tiến tới” con đường Giải thoát. Ngặt vì, chúng ta không được chuẩn bị kỷ càng để đi trên con đường đó:
– Chúng ta chưa làm một việc thiện nào, cũng chưa tập luyện nhường nhịn, hay chẳng chịu nhìn nhận mình cũng có một phần sai lầm trong vấn đề cải vã đó mà chỉ lo kết tội người, hay chỉ muốn người đối diện sửa đổi mà không nhìn vào những khuyết điểm của mình. Nhất là chỉ lo thủ lợi: "Chết sống mặc bây"...
Đùng một cái, nghe nói có thể thành Phật được. Thế là "a lê hấp" nhảo vô tu chụp giựt (vì quen thói làm ăn)... tu liền, tu ẩu tả...(số này rất đông). Sau một thời gian thử lửa, một số bỏ cuộc. Một số tu không được mà làm như đã tu xong: Đi sắm đồ sắm đạt để lừa người nhẹ dạ. Một số bị A-tu-la nhập: Lên đồng, lên bóng... Tại sao ???
Tâm anh đầy ác ý, bỏn xẻn, đầy tư lợi, ... Làm sao anh có thể tu thành công được. Vì nó ngược hoàn toàn với con đường đạo, vốn chỉ chấp nhận những ai có tâm "hướng về" từ bi, hỷ xả... Y như lấy lổ vuông mà đúc ống tròn!
May là không được gì cả, và cũng may mà anh bỏ cuộc. Nếu anh cố mà gắn nó vào thì nó sẽ phá nát cái tâm bẩn thỉu trên. Bằng chứng: Có người, do chịu không nổi phản ứng phụ, đã bị khùng.
Lại có người khởi tu bằng ý tưởng tương tự như: "Ta mà thành công thì ta sẽ trừng phạt bọn bây hết", "Ta mà thành Phật thì chết mấy tụi bây"... Họ sẽ được gì?
Thằng ngọng tôi thấy rằng: "Định luật cộng hưởng" hay "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" ảnh hưởng rất lớn đối với chúng ta.
Ví dụ như: "Tôi không biết anh là ai, nhưng hảy cho tôi biết người bạn thân của anh thì tôi sẽ biết anh là ai".
Với một tu tưởng thô bạo (đầy sân hận) như trên, tất nhiên anh không có cơ hội để gặp được một phương pháp tu đứng đắn (vì "Định luật cộng hưởng") mà thường anh lại gặp những phương pháp tu của A tu la9 như: (Thần quyền, Tâm linh, Vạn thiên giới linh, Năm ông, Ngủ hành, các loại bùa Miên, Bát tinh, Thất sơn, Phật quyền...)
Do vậy, nếu khởi tu với một tu tưởng lành thì anh có thể có cơ duyên được gặp một phương pháp tu đứng đắn được. Tu tưởng lành nhất anh có thể tự kiểm soát được là sự "Hiếu thảo": Coi cha mẹ là trên hết, quyết định đứng đắn của cha mẹ được tôn trọng cho đến cùng. Cha mẹ nói đúng là mình làm liền, vì coi cha mẹ là "tối thắng" nên ý của cha mẹ nhiều lúc không phải ý của mình thì phần đông mình cũng phải làm cho được luôn mới thôi.
Như vậy, Thằng ngọng tôi "bật mí" cho anh biết rằng sở dĩ Phật không nói đến vấn đề "tẩu hóa nhập ma" là vì: "Tất cả những tu sĩ thời bấy giờ, theo Phật tu hành, đều là những người cực kỳ hiếu thảo". Đó là điều kiện an toàn mà chỉ có đạo Phật mới đề cập đến:
"Gặp thời không có Phật, về nhà thờ cha mẹ tức là thờ Phật"... Câu đơn giản như vậy mà hình như ít ai hiểu hết được ý sâu xa của đức Phật muốn ở chúng ta cái gì ??? Càng tu cao Thằng ngọng tôi càng mến Ổng thành thật mà nói là như vậy... Còn anh thì sao?
– "Chơi bùa, chơi ngải với cái này khác nhau như thế nào"?
Có hai quan niệm muốn thành "siêu nhân".
Thật vậy, khi phát tâm tu hành là mình muốn thành: Phật hay "Thầy của Trời và Người", như vậy không phải là siêu nhân là gì?
Khi đi học, trong một lớp chỉ có vài người học giỏi, lên đến Trung học có một số bỏ cuộc, một số tiếp tục học. Đến Đại học, số bỏ cuộc lại rất đông, một số rất ít lại tiếp tục đi học. Khi ra trường: Không còn bao nhiêu người, một số rất ít lại thành Tiến sỉ, và trong thiểu số đó, một hay hai người thành Bác học! Đối với chúng ta: Bác học là một dạng siêu nhân. Còn đối với Phật giáo: Bác học là chỉ là vườn trẻ, không có ký lô nào! Nói đây để chúng ta thấy rằng: Làm Bác học đã là khó, thì thành Phật lại càng khó... Tu lơ mơ là thành : Ma, Quỷ, Tiên, A tu la,... hồi nào không biết! Nên giáo lý phải cần học là vậy. Ví dụ: "Tam tôn" là "Phật, pháp, tăng" chớ không phải là "Tinh, khí, thần"; "Kim cang pháp thân" có thể được khi: Tu sĩ có Hộ pháp là "Kim cang vương" và phá được công án "Chấp kim cang" (cùng với hộ pháp quăng chầy vào ngay đầu của Tỳ lô giá na) chớ không phải là linh hồn; "Phản bổn hoàn nguyên" là khi phá được công án "Năm ông nhập một" (cùng với Phật A di đà, Quan âm, Kim cang vương, và tu sĩ bay vào Tỳ lô giá na khi năm chầy gặp nhau tạo nên tiếng nổ "Subham") chớ không phải là dùng sự di chuyển của những hào âm dương trong quẻ "Hỏa thủy vị tế" để biến thành quẻ "Thiên địa bĩ". Nói ra để thấy cái khó của vấn đề tu hành trong "giòng pháp Kim cang" (Vajra–yana) trên con đường thành Phật.
Vì quá khó, và cũng vì quá ham thành "siêu nhân" nên đã có người cầu nguyện với một "khởi tâm thô bạo" như đã nói trên (trang 12) và họ đã vô tình câu nhiếp với các hệ thống của thế giới A-tu-la (đại diện cho sự thô bạo), tạo nên các phương pháp tu hành như luyện ngải, luyện bùa, mà hậu quả rất tai hại.
Nếu nói rằng trong y khoa có rất nhiều bịnh truyền nhiểm, thì trên con đường thành Phật, ta cũng có những Pháp môn thấp kém có những tính lây truyền với những hậu quả tai hại không thể lường được.
Công thức chung của các pháp môn trên là: Lập bàn thờ gồm 5 trái cây, đốt 5 cây nhan, rót 5 ly nước... Sư huynh nói người nhập môn đọc một câu thần chú cầu xin các tổ10 về và có khi mấy ổng nhập liền: Thân thể tự nhiên cử động, rồi sau đó đánh vỏ, hay ban đêm xuất hồn theo các ông tiên học thuyết âm dương, chữa bệnh... Có pháp môn, trong đó, Sư huynh nói sư đệ lè lưỡi ra và lấy dao cạo cắt thử nếu không đứt thì chắc chắn là "chính pháp" ... Tuy rằng khi mới nhập môn họ có nói đây là pháp môn của đạo Phật. Nhưng đối với người biết chút ít lý thuyết về đạo Phật thì không có cái gì của ông Phật ở trong đó cả: Họ học và luyện đủ thứ: Án nhãn, tàn hình, đánh vỏ, tập gồng, luyện bùa, luyện ngải... Nếu áp dụng vào Khổ, Vô thường, Vô ngã, chúng ta thấy ngay họ học những trò đó để làm gì? Thằng ngọng tôi không thấy mùi vị Giải thoát nào trong đó cả! Mặt khác:
Kiêng cử "vọng niệm" không lo! Lo kiêng cử khế, thịt chó, thịt trâu.
Giử gìn "vọng ngử" không lo! Lo không được chui qua dây phơi đồ.
Luyện tập để được "vô ngã" không lo! Lo luyện bùa ngải, lấy đồ trong chiều ảo...
Kể cả pháp môn của các Tổ thiền, họ cho rằng quá chậm! Chậm mà người ta lên Niết bàn, còn các anh lẹ mà sau đó thì: Nếu là nam thì bị mù, còn nữ thì bị điên!
Sư tổ của họ nhận thấy: Một số rất đông các đệ tử tập luyện siêng năng. Khi về già, nếu không bị bịnh nặng (bại liệt, mù) thì cũng không thoát khỏi nạn bị điên... Lần lược các sư huynh của sư tổ và sau cùng, sư tổ cũng không thoát khỏi tình trạng thê thảm trên. Nên mới đề ra nội quy có năm điều luật đại ý như sau:
1. Không lừa Thầy, phản bạn.
2. Không hiếp vợ người.
3. Giúp người cô thế.
4. Bệnh vực lẻ phải.
5. Nếu phạm giới thì: Nam sẽ bị mù, Nữ sẽ bị điên.
Thằng ngọng tôi thấy rằng những điều (1,2,3,4.) có thể khác nhau. Nhưng chắc chắn điều (5.) là phải giống nhau. Đó là dấu hiệu nhận nhau của hầu hết các pháp môn thấp kém đó.
Có bạn hỏi: Tại sao họ bị như vậy khi tập luyện một cách siêng năng? Thằng ngọng tôi xin thưa rằng: Sở dĩ chỉ có người luyện tập siêng năng mới bị thôi. Là vì khi họ tập rất nhiều một cách siêng năng, các Điện thần nhân hay A tu la nhập vào, xuất ra liên tục làm hư hao hay rách nát "thể phách", nên khi về già hay khi bịnh thật nặng tinh khí không được bảo tồn nữa. Và có thể xuất ra dầm dề không cách gì mà cản được cả. Tinh khí có hai đường để xuất:
1. Tinh biến thành khí, xuất ra đầu: Bị khùng bất luận người đó là Nam, hay Nữ.
2. Tinh khí xuất ra dầm dề theo đường sinh dục: Bịnh rất nặng, có thể bị liệt, hay mù...
Ngoài mình ra, không ai có lổi cả, chỉ tại mình quá muốn làm siêu nhân mà quên điều tâm (cố gắng hết sức sống thật hiếu thảo)11 .
Còn rất nhiều câu hỏi khác nhưng lại thuộc về từng cá nhân một, nên Thằng ngọng tôi không thể ra... Chúng tôi ngồi nói chuyện như vậy đến lúc trời sáng... và chúng tôi tổ chức đám cưới. Một đám cưới, trong đó Cô dâu và Chú rể hoàn toàn đóng vai phụ; chẳng ai chú ý đến họ, vì tất cả đều thích nghe chuyện đạo hơn ...
Có một câu hỏi của Cậu Sáu là đáng chú ý nhất.
– "Hôm qua, không có tôi tới nghe cậu nói chuyện. Nhưng tôi có nghe đám trẻ nói lại rằng: Cậu kêu Đức Phật bằng "Anh" hay "Ổng" tôi thấy sao sao đó".
Và cậu đối giọng:
– "Nè cậu; Cha mẹ tôi thờ Phật, tôi thờ Phật, tụi tôi già hơn cậu, tụi tôi đâu giám kêu Đức Phật như cậu kêu đâu, nếu cậu kêu như vậy thì cậu leo lên bàn thờ, cho tụi tôi thờ luôn đi cho tiện"!
Thằng ngọng tôi, chậm rải thưa lại:
– "Cám ơn Cậu đã lắng nghe và có suy nghĩ về lời nói của con. Theo con nghĩ, trước khi mình thực hiện bất cứ công trình nào thì mình nên hơi coi thường nó một chút. Nếu không, chính vấn đề "thần tượng hóa" đó sẽ cản mình, nên đây cũng là một lý do: Tại sao, người ta không thành công trong Phật giáo. Muốn thành công bất cứ cái gì, Đầu tiên, mình bắt buộc phải theo một phương pháp mà đã có người thành công. Ở đây là Tịnh độ, Thiền định và Mật tông. Mình nên lập tâm hay lập chí như sau: "Họ làm được, mình làm được, Ăn thua nhau phương pháp thôi! Bây giờ mình đã biết cách rồi. Chỉ có làm, không nói nữa"!
Vậy, muốn thành Phật, mình nên hơi coi thường ổng một chút, nên đưa ổng xuống ngang tầm với mình, đừng vội cho ổng phóng hào quang. Thật ra, ổng đã từng đi chân không, và xin ăn như mình. Cũng có khi, vào nhà gặp tên cà chớn thì ổng cũng bị đập hay chửi y như mình. Đối với bạn bè, ổng đã từng khốn khổ khi nói chuyện giác ngộ. Vì lúc đó ổng chỉ mới ba mươi mấy tuổi, ai mà nghe ổng?
Biết rằng Phật giáo không quan niệm: "Có một Thượng đế toàn năng (gì cũng làm được) và toàn tri". Trong khi, các đạo khác lại cho rằng: Có một Thượng đế toàn năng thống trị muôn loài... Điều quan trọng nhất, mình không làm cho ổng mang tiếng, khi mình vô tình tôn sùng và đưa ổng vào vị trí độc tôn của một Thượng đế. Nếu mình làm vậy: Không khác gì mình chụp mủ ổng câu: "Đả đảo tất cả! Và hoan hô tôi"! Vốn là điều mà Phật giáo tối kỵ.
Vã lại, về "toàn năng" và "toàn tri": Phật giáo nói rằng có một khả năng đạt được "toàn tri" (gì cũng biết) và không có khả năng đi tới "toàn năng". Vì rất dể hiểu: Nếu đã là "toàn năng" thì chắc chắn bây giờ không còn nạn "Vô-minh" nữa và có lẻ Cậu và con đã thành Phật lâu rồi... Và tất nhiên, nếu phủ nhận tất cả sự giúp đở của các Bồ tát, lại cũng không đúng. Về vấn đề tế nhị này: Chúng ta vẫn nhận sự giúp đở "đầy tỉnh giác và kịch tính" của họ, và để thành công, chúng ta cần có phần cố gắng cá nhân nữa... Đừng quên rằng: "Hảy tự giúp, Thượng đế sẽ giúp anh"!
– "Thằng này, nhỏ mà ngon! Vậy thì tôi phải tập gì?
– "Tịnh độ"!
– "Tôi thường niệm Phật trước khi đi ngủ cả chục năm nay rồi! Cũng có kết quả nhưng chưa rỏ lắm. Chú mầy có ý kiến gì về vấn đề này?
– "Trước khi vào vấn đề, Thằng ngọng tôi muốn nói lại một vài định nghĩa quan trọng mà người theo con đường Giải thoát phải biết rỏ ý của Phật khi dùng những chử đó:
Vô minh: (Thường được nói qua "đầu môi chót lưởi" nhưng ít ai chịu suy nghĩ kỷ về nó) Là một tình trạng trong không có kinh nghiệm về một vấn đề nào đó. Nên khi cố gắng trình bày về vấn đề đó: Người ta gặp khó khăn vô cùng vì lúc nào cũng bị hiểu lầm.
Ví dụ: Vào cuối thế kỷ thứ 19, có một ông quan qua Pháp và về Việt Nam. Ông được Vua cho phép tường thuật lại những gì mắt thấy tai nghe khi qua xứ người. Ông quan bối rối không biết nói làm sao cho người trong nước hiểu rằng: Có một ngọn đèn cháy được khi treo lộn đầu, và đặc biệt không cần dầu! Và một chiếc xe chạy được bằng hơi nước, mà không cần ngựa kéo...
Có lẻ ông quan khốn khổ đó, đã cố gắng hết sức giải thích dài dòng trong buổi họp nhưng cuối cùng không ai hiểu gì cả.
Sau đó, nghe nói ông Vua "vô minh" kia đã sai quân lính lấy một ngọn đèn dầu, đốt lên, và lộn ngược xuống: Bá quan văn vỏ thấy đèn tắt ngấm và dầu thì đổ thành vũng... Ai nấy cười xòa, Vua "vô minh" kia cũng cười và còn tuyên bố tha tội "khi quân" cho ông quan đó ... Mà không biết rằng: Ông cùng bá quan văn vỏ đều những người "vô minh" khi nghe ông quan trên cố gắng mô tả bóng đèn điện và xe chạy bằng hơi nước rất thịnh hành lúc bấy giờ ở ngoại quốc. Không những vậy, Ông còn dùng cái hiểu biết thô thiển của mình, để bát bỏ câu chuyện có thật một trăm phần trăm kia, bằng cách: Lật úp ngọn đèn dầu đang cháy để chứng tỏ rằng mình có lý! Thật là "vô minh" hết biết luôn!!!
Vậy "vô minh" còn nặng nề hơn "ngu đần". Vì đối với "ngu đần" nếu nói hoài, có lúc kẻ "ngu" kia có ngày sẽ hiểu ... Nhưng đối với "vô minh" thì dù có nói tới mấy kiếp đi nữa, họ cũng khó có thể hiểu mà có hiểu thì cũng chỉ đi đến hiểu lầm thôi !!! Điều kỳ lạ là khi được gọi là "vô minh" chúng ta ít bực mình hơn khi bị chửi là "ngu"!!! Thật đúng là "vô minh" hết biết luôn !!!
Tà đạo: Chúng ta thường có thói quen kỵ hai chử "tà đạo" và không ưa ai đó tặng mình hai chử đó. Ngược lại, trong Phật giáo, chúng ta lại có hai quan niệm rõ rệt về cung cách tu hành "tà đạo".
1. Phương pháp tu hành đi ngược lại hoàn toàn với quan niệm cơ bản của Phật giáo:
Phật Thích Ca có một lần nhắc nhở La hầu La:
– "Thể xác này không là ta, linh hồn kia không là ta, tu tưởng nọ không là ta".
Vì vậy, Phật giáo không chấp nhận có thể xác, linh hồn và tư tưởng trong điều kiện "toàn giác". Nên Phật giáo có một cách tu hành đặc biệt để loại bỏ dần các thành phần trên để vào được Niết bàn.
Dựa vào phát kiến đầy trí tuệ trên: Chúng ta liệt kê những pháp môn tu về: Tinh khí thần, Xuất hồn12 , đánh vỏ thần quyền, thôi miên, luyện mặt trời, luyện mặt trăng, luyện thu lôi, Bát tinh, Thất sơn, Năm ông, luyện bùa ngải,... đều thuộc về tà đạo (100%).
2. Phương pháp đi đúng đường lối của Phật giáo nhưng tu sĩ không chịu vào Diệt thọ tưởng định, hay chưa vào được:
Trong điều kiện này, Phật giáo vẫn gọi đó là "tà đạo". Kể từ khi tu sĩ đạt được trình độ Sơ thiền (chớ không phải thiền sơ sơ) với đầy đủ "tầm, tứ, hỷ, lạc". Tu sĩ đã đi trên con đường Phật giáo rồi, nhưng vẫn không hiểu gì về Phật pháp hết.
Khi vào được Tứ thiền, tu sĩ lo tu về thần thông để tập làm chủ tu tưởng. Ở đây, tu sĩ đã gần kề mục tiêu của Phật giáo rồi, nhưng chưa có một tý gì về Phật pháp hết. Mặc dù với sự cố gắng hết sức, tu sĩ có thể có đủ ngủ thông:
– Thiên nhản thông: Quán một màn tivi, giử cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một cảnh vật nào đó (nên chọn một cảnh vật gần nơi mình ở để có thể kiểm soát khi mình làm xong thí nghiệm.
– Thiên nhỉ thông: Quán một màn tivi giử cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một ông bạn hiện giờ ở đâu, và đang nói những gì? Liền thấy ổng đang làm cái gì đó trong màn tivi, và nghe tiếng nói của ổng "xuyên qua" đầu mình. Nhớ kiểm tra lại để tránh rơi vào ảo giác!
– Tha tâm thông: Quán một màn tivi giử cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một ông bạn hiện giờ đang nghĩ gì? Liền nghe tiếng nói của tu tưởng ổng "xuyên qua" đầu mình. Nhớ kiểm tra lại để tránh rơi vào ảo giác!
– Túc mạng thông: Quán một màn tivi giử cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn coi một quá khứ gần mình đang làm những gì: Liền thấy mình đang làm cái gì đó trong màn ti vi. Cùng một thể thức ấy, tác ý muốn coi mình đang làm gì vào lúc ba tuổi chẳng hạn... Một tuổi... Không tuổi... Lúc này nên đặt câu hỏi "Rồi sao nữa" để thấy được tiếp... Nhớ giử giới luật thật nghiêm khắc khi thử nghiệm!
– Thần túc thông: Trước khi thí nghiệm, lấy một cái đỉa và rắc khá dầy bột phấn rôm (talc) hay tro lên đỉa đó, để đỉa trên bàn ngoài phòng khách. Vào nơi mình tu tập, nhập Tứ thiền, quán một màn tivi giử cho nó trong suốt và ổn định. Tác ý muốn thấy nơi mình để cái đỉa và tác ý muốn vào nơi đó để ịn bàn tay mình lên đỉa đó. Liền thấy mình đứng trước đỉa và ịn bàn tay mình lên đó. Xuất định, đi ra kiểm soát coi có "dấu tay mình trên đó không"? Nhớ nhờ một người khác xác nhận có đúng vậy không? Để tránh rơi vào ảo giác! Sau đó tác ý đi lấy một cái gì đó của một anh bạn nào đó... Lấy xong nhớ trả lại họ chớ không thì tội nghiệp họ.
Tuy vậy, họ vẫn bị Phật giáo gọi là "tà đạo"!!! Và như vậy, cho tới khi tu sĩ vào được Phi phi tưởng xứ. Lúc này tu sĩ có thể coi được bốn mươi kiếp (40), vì còn tà đạo, tu sĩ không cách gì coi được kiếp thứ bốn mươi mốt (41)!!!
Thật là ghê gớm, khi được biết mình vẫn còn bị kềm hãm trong "tà giáo"! Lúc đó tu sĩ mới hiểu được sự cao siêu của đức Phật.
Chỉ khi nào Tu sĩ vào được Diệt thọ tưởng định thì lúc đó tu sĩ mới được công nhận là không còn tà đạo nữa!!! Tất nhiên còn phải vào cho đủ bảy lần để chỉ thành Độc giác Phật. Còn bậc "Như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sỉ điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, Phật, thế tôn13 " thì Thằng ngọng tôi, xin nghiêng mình đảnh lễ !
Trên đây là con đường dành cho những người thật là bình thường đi vào chánh đạo (có nghĩa là phải đắc các từng thiền trước rồi mới vào được Chân lý). Còn một con đường khác hay hơn và rất là hiếm khi thành công, đó là con đường đi tắt vào Chân lý. Có nghĩa là, khi ngồi nghe nói chuyện đạo, tự nhiên do câu chuyện gây xúc động mảnh liệt, tâm của người đó đột biến và ngừng giao động nếu cứ để yên như vậy thì có thể đắc ngay quả vị A la hán mà không cần phải đắc các từng thiền14 .
Chúng ta nên thận trọng khi gặp những cái gọi là "Tà sư" có những "tà sư" thật sự là dở (phần 1.). Đối với các pháp môn đó, là Phật tử, chúng ta không tu theo họ. Nhưng cũng có những "tà sư" nhưng vẫn còn dùng được vì chử "tà" đây lại có nghĩa là "chưa tu xong".
Vậy chúng ta đừng vội cho ông này tà, bà kia chính. Vì thật sự vấn đề "chính, tà" hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta. Vì oái oăm thay, chúng ta hoàn toàn "vô minh" có nghĩa là còn tệ hơn là "tà đạo" nữa! Thật vậy "tà đạo" chỉ dùng cho những tu sĩ hoặc tu sai lầm, hoặc chưa tu xong. Còn chúng ta không hiểu gì hết về vấn đề tu hành (vì còn là "vô minh") mà bày đặt đi lo phê bình này nọ theo quan niệm rất là phàm phu của chúng ta.
Trở lại câu chuyện trước. Nếu chúng ta thấy một vị sư không biết từ đâu tới, tự nhiên ngồi bên bờ ruộng, không nói, không cười, trời mưa trời nắng cũng không màng. Ông cứ ngồi tại chỗ không di chuyển và nhúc nhích đâu hết... Cho tới khi có vài người đi lấy củi trong rừng thấy vị thầy kỳ dị đó và tự làm cho ổng một cái chài bằng cỏ tranh. Rồi sau đó rất lâu, người ta mới xây cho ổng một cái cốc.
Sau khi có cái cốc rồi, ổng mới nói pháp cho dân chúng trong vùng... Được hỏi tại sao lúc trước ổng không nói, không cười trong vòng mấy tháng trời thì ổng từ tốn trả lời: "Tôi nguyện rằng: Nếu tôi đủ sức để thuyết pháp độ sanh thì dân chúng trong vùng này sẽ xây cho tôi một cái cốc"... Nếu gặp một người như vậy, Thằng ngọng tôi thử hỏi anh em mình có cho rằng ổng ấy là chính đạo không?
Nên nhớ rằng ổng làm vậy trong lúc [***] tôn giáo rất là gây gắt. Ngay cả [***] trong vùng còn nễ ổng nữa là! Cho tới khi anh H. dẩn Thằng ngọng tôi tới mới vở lẻ ra là ổng bị Thiên ma chơi xỏ lá: "Họ đã giăng bẩy và Thầy đã "ngây thơ" đi vào". Thầy đã bị khùng vì: "Tinh hóa thành khí và xuất ra ở đỉnh đầu"...
Đến đây, chúng ta đã có một vài nhận định chính xác về Phật pháp rồi. Hiểu rõ về "Vô minh", một lần nữa chúng ta lại thấy sự tác hại của nó trong sự truyền bá pháp môn "Tịnh độ". Pháp môn "Tịnh độ" là một pháp môn chuyên dùng câu "A-di-đà Phật" để vào chánh niệm, rồi giựa vào niềm tin mạnh mẽ, tu sĩ có thể đạt được từ "Sơ phẩm" đến "Cửu phẩm" sau đó phát đại nguyện để vào "Nhất sanh bổ xứ" và đi độ sanh cũng bằng câu niệm Phật bất hủ đó. Nhưng với màn "vô minh" dày đặc không biết có bao nhiêu người đã có cho rằng:
– "Tịnh độ tông chỉ dành riêng cho những ai "hết xí hoách" hay gần chết tu thôi. Một pháp môn chỉ dành cho những người đã hết nhựa sống tu, thực tế chả hấp dẩn tý nào! Vì vậy, người niệm Phật chiếm đa số là già. Còn đám trẻ mà nói tu Tịnh độ lại có mặc cảm nặng nề vì người đối diện thể nào cũng an ủi họ rằng: "Pháp môn nào cũng tốt hết, tôi thì theo Thiền tông nó có vẻ trí tuệ hơn" ( ý muốn nói: "Thiền tông ngon hơn Tịnh độ nhiều"! ) và sau câu nói xã giao, người bạn Thiền tông bỏ mặc anh chàng Tịnh độ rồi quay sang những người khác nói "công án này công án nọ". Đó là chuyện thường tình trong những nhóm theo đạo Phật. Mặt khác những buổi giảng đạo thường lấy đề tài là "công án này công án nọ" có vẻ hấp dẩn hơn và thu hút một số khá đông người mộ đạo trẻ tuổi. Ai cũng thích nói về các bộ kinh lớn như "Kim cang", "Pháp hoa", "Hoa nghiêm" còn nói về Tịnh độ, giảng sư hình như kẹt đề tài..
Thật vậy, chỉ có chúng ta ở "Nam thiện bộ châu" với đầy chất "vô minh" mới có ý nghĩ kỳ quái đó. Có lẻ chuyện này xảy ra vì cái đám "học giả" vốn là cái đám "ăn không ngồi rồi". Tự cho mình thông minh, học giỏi lại là con nhà giầu, nên có quyền ấn loát, cắt xén nguyên bản và viết lại theo ý nghĩ của mình...Với hai thần thông: "Ngu si thông" và "Vô minh thông", họ đã cắt xén nguyên bản của Pháp môn Tịnh độ, biến chế theo ý riêng của mình. Họ vô tình tiếp tay với Thiên ma, hóa phép từ một pháp môn cực kỳ khó khăn thành một pháp môn chỉ dành cho những ai "gần đất xa trời" tu mà thôi.
Thật vậy, họ có biết đâu: Cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, vào một hôm, Sariputa15 , với sự nhạy cảm cực kỳ của mình, phát hiện ra sự đăm chiêu của đức Phật. Ông nghĩ rằng: "Đây là lần độc nhất mình thấy Thầy có vẻ trầm tư một cái gì đó. Hay là mình hỏi thử xem sao"? Nghỉ tới đó, ông liền hỏi và Phật im lặng không nói... Ông lại hỏi lần thứ hai, Phật vẫn im lặng... Đến lần thứ năm, Phật mới nói: Khó lắm! Rồi im lặng... Sau khi hỏi thêm bốn lần nữa, Phật đều trả lời: "Khó lắm đừng hỏi thêm chỉ cho mất công". Và như vậy, đây cũng là lần độc nhất Phật nói "Khó" tới năm (5) lần trước khi trình bày một pháp môn! Một pháp môn mà khởi đầu bằng tới "năm cái khó của một đức Phật" thì đủ hiểu nó khó đến chừng nào... Ấy vậy mà vẫn có người cứ cho rằng: "Tịnh độ là dể tu". Thật là "vô minh" hết biết luôn !!!
Nói về "Tịnh độ", chúng ta nên để ý đến cái vô lý của vấn đề "Niệm Phật". Căn cứ vào các sách Tịnh độ tông, nếu đọc thật kỷ: Phật A-di-đà chỉ yêu cầu chúng ta niệm có mười (10) niệm thì sẽ gặp Ổng. Và nên nhớ, Ổng có thề độc rằng: "Ai mà không thấy Ổng thì Ổng sẽ không thành Phật"! Nhưng chúng ta thấy rằng họ niệm cả triệu lần nhưng đâu có ai thấy cái con khỉ gì đâu?
Vậy, có ba cái, có thể sai trong vấn đề này:
1. Do "tam sao thất bổn", có nghĩa là do sự dịch thuật và chép đi chép lại nhiều lần: Sách có thể bị mất ý chính và sai hoàn toàn.
2. Do Ông Phật nói sạo, đánh lừa chúng ta, bắt chúng ta phải niệm tới niệm lui một câu vô nghĩa: "A-di-đà Phật" để "tẩy nảo" chúng ta. Và có thể mưu đồ xấu.
3. Do chúng ta không biết cách niệm mà ra nông nổi này.
Đối với vấn đề thứ nhất, chúng ta thấy vấn đề niệm danh hiệu một đức Phật cũng được trình bày trong kinh Dược sư: Lần này lại là mười hai (12) biến . Như vậy số biến phải niệm chắc là từ 10 đến 12 câu thôi. Do đó sách có thể không sai. (May phước!)
Việc cho rằng ông Phật nói sạo, có lẽ chỉ có vài người bệnh hoạn sao đó thôi. Suy cho cùng, ông nói sạo để làm gì? Và lại câu "A-di-đà Phật" nếu là một câu vô nghĩa, thì việc niệm hoài có tác hại gì đâu? Mà gọi đó là "Tẩy não"? (may phước, việc này cũng sai luôn!).
Như vậy, với lý luận cù nhầy trên, chúng ta đi đến kết luận: Tại chúng ta không biết cách niệm Phật mà ra nông nổi này đây. Và số người có quyền hướng dẩn pháp môn "Tịnh độ" cũng không hơn gì chúng ta lắm, chỉ khác một cái là họ có cái đầu trọc và bận áo vàng khi nói chuyện đạo thôi. Và tai hại hơn hết là khi họ đi độ người chết, chúng ta thấy: Ai là người đứng ra tuyên bố người chết đã được độ đi về đâu chưa? Ai là người đứng lên, gọi cả nhà đến và dõng dạt tuyên bố, "Các bạn hảy vui lên vì Ông đã được độ lên "Trung phẩm thượng sanh" và khi tôi gặp ổng, ổng nhắn lại rằng:... và ... Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận có những trường hợp con cháu trong nhà có linh tính: Ông bà mình không xuống địa ngục. Và do thiện chí của họ, có khi họ được báo mộng đại khái như vậy: "Ông ráng đọc thêm nữa đi vì giòng họ mình còn rất nhiều người còn bị đọa. Thôi tôi đi."
Nếu chúng ta ví chúng sanh như là một ông bị bịnh "mù bẩm sinh" và lời Phật hứa rằng: "Ai mà niệm danh hiệu tôi đủ mười biến mà không thấy tôi thì tôi sẽ không thành Phật"! Như là lời quản cáo về một cái bật lửa tối tân: "Chỉ cần đổ xăng – Gài đá lửa vào – Quẹt và có ngay một ngọn lửa.
Đem: Chúng sanh và lời hứa của đức Phật so sánh với mù bẩm sinh và bật lửa tối tân. Chúng ta có một hình ảnh gần đúng về vấn đề tu hành của chúng ta.
Vì bị mù bẩm sinh nên ông ta phải học hỏi tất cả vấn đề bằng sự tiếp xúc trực tiếp. Để "đổ xăng", ông ta phải học và biết đâu là "xăng" đâu là "dầu thơm" và đâu là "nước lạnh". Sau khi nhận thức được các loại chất lỏng kia qua: Lời nói của bạn bè, kinh nghiệm bản thân và sự hư hại khi làm đại và ẩu tả nhiều lần... Lần này ông ta biết một cách chính xác phải làm gì khi đụng phải ba chất lỏng trên. Ông ta biết thế nào là "đau khổ" thế nào là "tầm bậy" khi lấy xăng mà tưới cây, khi đem đầu thơm mà uống, khi dùng nước mà tạt vào người đi đường...
Sau khi thất bại quá nhiều lần, ông ta không còn tự ái bậy bạ nữa. Ông đã biết thế nào là phải lắng nghe, thế nào là phải kiên nhẩn, thế nào là phải chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi hành động ...
Đem so sánh những sự việc trên với phương cách chọn lựa giữa chánh đạo và tà đạo, giữa chánh định và tà định, giữa Tịnh độ tông, Thiền tông, Mật tông chúng ta thấy không khác nhau lắm; Cũng chừng đó quờ quạng, cũng chừng đó đổ bể và thất bại.
Để "Gài được đá lửa", Ông phải thực hiện được một số động tác với sự chính xác tuyệt đối một cách "Nhuần nhuyển, dể sử dụng":
1. Biết đâu là đá lửa.
2. Biết dùng dụng cụ mở con vít ép lò xo (Phải để con vít ở đâu. Và phải cẩn thận lấy con vít ra, nếu không nó sẽ văng mất ...)
3. Bỏ viên đá lửa vào ngay cái ống.
4. Biết cách vặng lại con vít.
Đem so sánh với cách niệm Phật, chúng ta phải thực hiện cho bằng được một số động tác tâm lý như sau:
1. Khi dụng tâm để niệm Phật, chậm rãi, từng chử một, lần lần nâng cao tần số (cao độ) theo một vận tốc đặc biệt phù hợp với điều kiện tâm sinh lý của mình:
Ví dụ: AAAaaa... Diii... Đààà... Phậậật... (Ở cao độ trung bình của giọng nói)
AAAaaa... Diii... Đààà... Phậậật... (Ở giọng cao hơn trước đó một chút)
AAAaaa... Diii... Đààà... Phậậật... (Ở giọng cao hơn chút nữa)
Vì chúng ta phải thư giảng thân thể khi niệm Phật. Nên khi nâng cao tần số của câu niệm lên, nếu bất cứ bộ phận nào bị gồng lại, chúng ta phải hiểu: Chúng ta đã đi quá "ngưỡng chịu đựng" của tâm sinh lý rồi. Lúc đó nên thư giãn lại và hạ thấp giọng tâm niệm xuống và làm lại... Những bộ phận thường bị gồng là: chân mày, cổ họng, quai hàm và có khi cả thân thể nữa...
2. Đẩy mạnh niệm đó ra xa bằng cách: Tác ý phóng mạnh niệm đó ra xa, hướng ngang đằng trước mặt, không nên chếch lên hay chút xuống, hay lệch trái hay qua phải.
3. Bằng cách phóng niệm trên, có lúc xuất hiện một không gian bao la màu đen. Vừa phóng niệm vừa giử không gian đó.
4. Vừa phóng niệm trong không gian bao la đó, vừa tác ý tạo một hòn bi bằng đốm nhan màu đỏ rực (ánh sáng càng chói càng tốt) ngay giữa không gian đó với ý niệm: Đó là đảnh của A-di-đà Phật. Phóng mạnh niệm vào đó.
Quẹt và liền được một ngọn lửa: Ông phải biết che gió, hay tránh nơi có gió, mưa nhiều quá. Đặc biệt, ông phải biết được đầu nào quẹt được, đầu nào không quẹt được (vì bật lửa lúc nào cũng có hai đầu) và sau cùng phải quẹt ra làm sao!
Nên nhớ rằng nếu ông cầm ngược đầu mà ông quẹt thì dù ông có cầu nguyện hay tụng chú gì gì đi nữa, cũng không thể có ngọn lửa được. Vì cách đó không thể cho ông ngọn lửa. Và ông không còn cách nào khác là trở ngược đầu lại và quẹt. Làm như vậy, dù ông không tin hay tin cũng không thành vấn đề vì cách đó lúc nào cũng cho ông ngọn lửa...
Tương tự như vậy, tất cả mọi vấn đề đều có một trình tự nhi tiến của nó. Ông không thể nào đốt giai đoạn được mà ông phải hội đủ những yếu tố tối thiểu để thực hiện. Và đây là những yếu tố tối thiểu cuối cùng để hoàn thành con đường tu hành bằng pháp môn "Tịnh độ".
Tất cả những linh ảnh về: Không gian bao la màu đen và hòn bi đỏ rực chỉ là những bước đầu trong việc chuẩn bị bức phá để chứng và đắc sự màu nhiệm của câu niệm Phật. Tới đây, ông phải lựa chọn đúng đầu bật lửa để có thể có ngọn lửa. Ông phải chuẩn bị tinh thần như sau để vào đúng tư thế tâm lý để làm một cuộc vượt biên. Từ màn vô minh đen kịt và bao la, ông thấy thấp thoán xa xa đảnh của đức Phật A-di-đà màu đỏ rực lúc đầu chỉ bằng hạt đậu xanh! Khi phát hiện được miền đất hứa đã ở đằng trước mặt, ông liền khởi tâm vui mừng và phát đại nguyện:
1. Chúng sanh vô lượng thề nguyện độ.
2. Phiền não vô biên thề nguyện tận.
3. Pháp môn vô lượng thề nguyện học.
4. Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.
Đó là thông hành (visa hay passe port) để qua của khẩu! Tóm lại cần có sự vui mừng và 4 đại nguyện mới vào được Tây phương tịnh độ nếu không, ông sẽ bị lạc như Mục kiền liên:
Ông này rất láu táu, khi nghe đức Phật Thích Ca giảng về Tây phương cực lạc, liền xuất hồn bay thử qua hàng hà sa số quốc độ và bị lạc vào xứ Tu-di Đăng Vương Phật. May mắn thay có một Bồ tát phát hiện được ông khi ông đang đứng trên miệng cái bình bát mà định hướng! Và cũng may thay, ông được Đức Tu-di Đăng Vương Phật với một cái duổi tay đã đưa ông về ngay xứ Ta-bà. Và còn may mắn hơn cho chúng ta, vì tai nạn trên, mà chúng ta biết được cách xuất hồn bằng luồn Bhavanga và cách qua của khẩu Tây phương cực lạc nói riêng và tất cả các cửa khẩu khác nói chung. Tóm lại sau khi phát tứ đại nguyện và khởi tâm vui vẻ, ông tiếp tục niệm Phật với một sự tinh tấn mạnh mẽ, không mệt mỏi và ở giai đoạn quyết định này ông có thể bị hai (2) phản ứng phụ như sau:
1. Đột nhiên xuất hiện trước mặt ông mười sáu (16) cảnh của Tây phương cực lạc (y như kinh) và sau cùng ông mới thấy đức Phật A-di-đà16
2. Có cảm giác thân nhiệt bị giảm và bất chợt thấy đối diện với A-di-đà Phật17 nếu tiếp tục niệm được thêm một niệm nữa...
Vốn là một ông Phật khó hiểu nhất trong Liên hoa tạng, nên Thằng ngọng tôi (dù là một tên nói nhiều nhất vào thời "Mạt pháp") vẫn không đủ danh từ để diễn đạt hết những gì mà Thằng ngọng tôi đã học và thấy được khi qua bên ấy. Tương tự như vậy, Milarepa cũng gặp khó khăn khi Ông nói về "Phương pháp chuyển hoá vật chất của Thầy Marpa"18 .
Chúng ta hoàn toàn vô minh khi nói về A-di-đà Phật, Quan-thế-Âm và Đại-thế-Chí Bồ tát rằng: Quan-thế-Âm lúc nào củng đứng về bên "trái" của A-di-đà Phật!
Thật vậy, tu sĩ nào đã đến Tây Phương cực lạc rồi đều có một nhận xét chung là: Quan-thế-Âm lúc nào củng đứng về bên "phải" của A-di-đà Phật ! Và Đức Đại thế Chí lúc đó lại đứng về bên trái của ngài A-di-đà Phật.
Chúng ta cũng có thể biết một cách dể dàng vì: Những hình ảnh về A-di-đà Phật đã in trong các kinh về Tịnh độ đều vẽ hình chữ "Vạn" quay theo chiều âm (
) có nghĩa là ngược chiều kim đồng hồ. Trong khi đúng ra là; Chiều dương (
) có nghĩa là thuận chiều kim đồng hồ mới phải.
Chắc chắn rằng, lúc bấy giờ vì quá tôn trọng bản khắc của một Thiền sư đã viên tịch nào đó nên ấn công úp nguyên bản khắc lại để in lên giấy! Việc đơn giản này đã làm chử "Vạn" quay ngược chiều kim đồng hồ và Quan-thế-âm thay vì đứng bên "phải" của đức A-di-đà, dưới tác dụng của "Vô minh thông" cộng với "Hàm hồ thông"; Ngài đã đứng một cách trái phép từ bao lâu nay, mà không có một "Lảo đầu trọc hay Bà áo xám nào" điều chỉnh lại dùm cho! Thật là "Vô minh" hết biết luôn! Chúng ta nên để ý đến số người niệm Phật lúc nào cũng cao nhất trong tổng số người theo Phật giáo ! Đủ để nói lên tình trạng cái gọi là "Đắc Pháp về Tịnh độ" có in trong các sách xưa của mấy ông Trung hoa! Thật đáng ngờ!!!
Nói xin lổi, nếu một họa sỉ vẽ ai đó mà chẳng giống người đó thì không bao giờ yên thân được với khách hàng đâu! Đừng nói là đã làm sai hoàn toàn một "Tuyệt tác" về tâm linh như vậy! Nên nhớ rằng giáo hội rất đông mà như vậy ta thấy rõ: Có ai đắc pháp đâu? Thật là "Vô minh" hết biết luôn!
Chuyện sờ sờ ra đó mà không thấy! Bực một cái là cứ mở miệng ra là: "Tự tánh", "Chơn như", "Pháp thường rổng lặng", "cái uyên nguyên"... Mấy ông nói cái chuyện đó ra để đánh lừa người ta à? Xin suy nghĩ cho kỷ, và xin đừng đánh lừa mình và người nữa./.
------------------
4 Hiện tượng trên không thể viết hay kể ra được, vì đây là một kinh nghiệm cá nhân ...
5 Trung tâm này nằm ngay giữa trán ở một phần ba, từ dưới tính lên, kể từ chân mày lên đến chân tóc. Hay nói theo sách châm cứu thì từ huyệt Ấn đường đo lên một thốn (tất).
6 Xin đọc lại cho kỷ "Trung bộ kinh (Tập ba) hay "Đức Phật và Phật pháp" của Narada.
7 Hai năm sau, Ba Danh lên Đà lạt thông báo là đã xong... Trước đó cô V. cũng đã xảy ra trường hợp như vậy... Sau đó là bé T. cũng vậy luôn...
8 "Chư tiên", là những giống hửu tình sống trên các từng trời cao hơn Con Người cho tới cung trời Tha-hóa-tự-tại. Họ vẫn còn giao dâm và ăn uống. Đối với đạo Giải thoát, họ không có một ký lô nào cả... Đối với những ai biết tiếng Trung hoa, chử "Phật" gồm: Bộ "nhân" với chữ "phất". Do vậy, chúng ta hay thấy hình ảnh: Ông tiên (bộ nhân) cầm cái phất trần (chử phất). Có lẻ ông cũng muốn thành Phật lắm nhưng không có cách nào thành được, nên làm như vậy cho đở nhớ? Hay để lừa những ai tu đạo Phật mà không có căn bản chăng?... Đạo Phật có chú ý tới những cung trời của các "Chư thiên" có nghĩa là từ Sơ thiền trở lên tới Phi phi tưởng xứ. Theo kinh nghiệm các chư Phật cho biết: Ở đây có thể thành Phật được.
9 Là những Quỷ dử, họ chuyên bàn chuyện đánh nhau, tự ái họ rất lớn, họ rất khỏe ...
10 Thực ra là các điện thần nhân, đôi khi các A tu la, hay mấy ông Tiên, xui xẻo thì lại có mấy con Quỷ nhập vào. Chỉ người có "Thần nhản" hay "thiên nhản" mới thấy họ bị ai nhập mà thôi.
11 Viết tới đây, Thằng ngọng tôi nhớ lại có một A tu la đã chịu khó nói lại cho một Anh bạn của tôi biết sự khác nhau giữa vấn đề đeo bùa và không đeo bùa... Làm Anh bạn cảm động quá liền phát tâm cố gắng không theo pháp môn đó nữa. Và Thằng ngọng tôi xin thành thật tri ân Ông đó...
12 Trong Phật giáo, có một phương pháp "xuất hồn" rất đặc biệt gọi là: "Xuất hồn bằng luồn Bhavanga". Khi thực hiện phương pháp này, tu sĩ biết được sự nguy hiểm của luồn Bhavanga trong vấn đề luân hồi. Với mục đích: Nhàm chán tất cả các pháp, để vào Diệt thọ tưởng định dể dàng...
13 Như lai: Bậc an nhiên tự tại hoàn toàn đắc quả Chơn như.
Ứng cúng: Đáng được sự cúng dường của Người và Tiên vì đã dứt hết phiền nảo.
Chánh biến tri: Biết hết tất cả các pháp "xuất thế gian" và "thế gian".
Minh hạnh túc: Có đủ trí huệ và hạnh đức.
Thiện thệ: Dùng trí làm thành một cổ xe lớn đi trên đường Bát chánh đạo để đến Niết bàn.
Thế gian giải: Có thể lý giải tất cả các sinh vật và vật thể trong thế gian.
Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu: Tự thắng để vào Niết bàn và chỉ cho người khác vào được.
Thiên nhân sư: Thầy của Trời và Người.
Phật: Bực giác ngộ hoàn toàn.
Thế tôn: Đáng được "Thế gian tôn thờ".
14 Trong nhóm của Thằng ngọng tôi, có Anh H. là người đắc quả vị Tu Đà Hường, khi nghe nói chuyện mặt đối mặt trong hai ngày và một đêm! Thật quá sức tưởng tượng...
15 Tục gọi là "Xá lợi phất", vốn là người có trí tuệ bậc nhất trong giới tu sĩ, người mà lúc nào cũng được nhắc tới lúc sắp hết tụng kinh: "Xá lợi phất, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc... là một nhân vật cực kỳ nhạy cảm, vì Ông lúc nào cũng trụ vào "Không trí" nên tất cả các sự vật đều hiện ra "như thật" trước cặp mắt trí tuệ của ông. Vả lại, Ông là người độc nhất chứng quả vị A-la-hán chỉ trong vòng 15 ngày. Là một người, sau 1500 lần thi triển thần thông để cố gắng phân tâm Ông mà không được! Phật mới tuyên bố: "Xá lợi phất, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc"...
16 Do ác tâm ít nên ông mới chu du cỏi cực lạc trước rồi mới vào gần A di đà Phật được. Cũng do ông đã đắc một vài mạn đà la nên tâm ông bình tỉnh hơn và có thể thấy rộng hơn.
17 Lần này do ác tâm nhiều, nghiệp ái còn nặng nhưng do sự tinh tấn mà có thể bức phá vào cảnh giới của ngài A-di-đà Phật. Vì hệ thần kinh chưa kịp thích ứng nên buộc phải tạm thời bỏ thể xác (với một cảm giác lạnh kinh khủng). Thông thường ông sẽ ngừng công phu, hay tập cầm chừng, sám hối và chờ tới lúc có cảm giác thật an tâm mới "bức phá" mà vào cảnh giới Cực lạc. Cũng có lúc liều mạng "chơi luôn" thì ông sẽ thành công ngay và sẽ bị sốt và nằm liệt giường độ vài ba ngày. Thằng ngọng tôi chưa thấy ai chết luôn khi thấy A-di-đà Phật hết, trừ trường hợp tình nguyện...
18 Vốn là một phương pháp khác để tu Tịnh độ, một phương pháp mà chỉ cần 24 giờ khổ luyện là qua được bên đó.