Hoa Sen Trên Đá - Bản Sao

09 - Trể, nhưng chưa muộn!

Trể, nhưng chưa muộn!

Vào khoảng năm 1989, tôi lại gặp thêm một kỳ nhân nữa. Một buổi sáng thứ bảy, bỗng nhiên tôi được rảnh vô cùng. Không ai kêu tôi đi chăm cứu cả. Theo thường lệ tôi vác cái túi đồ nghề lửng thửng ra chợ, với ý đồ xem có ai bị trúng gió không? Tôi đếm bước trên dốc đá có tên là hẽm Nguyễn Biểu, mà dân Đà Lạt kỳ cựu thường gọi là dốc Nhà Làng... Tôi vừa lên được vài bậc cấp thì từ đầu dốc, đi xuống một anh chàng đi chân không, ăn mặt rách rưới: Chiếc áo sơ mi củ kỷ và dơ bẩn đã rách thành từng sợi và bay lất phất dưới làn gió mát lạnh của Đà Lạt! Mình mẩy đầy bụi đất đỏ, nếu nhìn kỷ: Chỉ có vùng da ngay mủi là tương đối sạch thôi. Chắc anh chàng vừa hỉ mủi xong chăng? Tôi nhìn và thấy ngay sự an nhiên tự tại trong ánh mắt của anh ta và có ý nghĩ rằng:

- Thật không ngờ rằng họ có thể bình tỉnh trong khi lại quá nghèo như vậy! Chắc ông này có cái gì đặc biệt đây!

Chúng tôi cùng qua mặt nhau, nhìn nhau và mĩm cười. Khi tôi đã cách xa anh ta vài ba bước, tôi ngoái đầu lại và nhận thấy rằng anh chàng cũng quay đầu lại, nhìn tôi lại mĩm cười... Rồi anh bước tới và hỏi:

- Có phải anh là Phước châm cứu không?

Tôi mĩm cười gật đầu. Anh ta tiếp:

- Đi chơi với tôi chớ?

Dĩ nhiên là: Ừ.

Chúng tôi đi xuống chợ Đà Lạt. Khi tới bồn binh bến xe, anh chàng dừng lại nhìn đăm đăm vào một chiếc xe hàng đang hướng về chúng tôi, rồi ngoắc tay đón. Xe dừng lại và chàng ta nói tôi lên xe. Thế là tôi ngồi giữa, một vị trí rất khó chịu vì tôi đâu có quen với bác tài. Xét hành động đón xe vừa qua, tất nhiên anh chàng phải là người rất thân. Vì thế tôi phải ngồi thẳng lưng để hai người có thể nói chuyện với nhau. Nhưng không, họ không nói với nhau lời nào! Khi tất cả đã an tọa, bác tài cho xe ra khỏi thành phố, nhắm hướng đèo Prenn lăn bánh... Xin nhắc lại: Từ đoạn dốc Nhà Làng đến bến xe chúng tôi không nói với nhau một lời, rồi khi lên xe chúng tôi cũng không một lời với nhau! Tất cả đều im lặng khi bác tài chăm chú lái xe. Chúng tôi qua khỏi đèo Prenn và khi tới lò gốm Vỉnh Tường (cách Đà Lạt 20 cây số về hướng Nam), bác tài "tự động thắng xe lại", anh chàng nói nhỏ:

- Tới rồi.

Chúng tôi xuống xe. Không một lời cám ơn! Bác tài rồ máy nhắm hướng Sài gòn lăn bánh...

Tôi chỉ chiếc xe hàng và hỏi anh chàng:

- Anh có một ông bạn hàng xóm quá tốt đó chớ!

Nhưng anh chàng lại trả lời rất thật thà:

- Không, tôi không có quen ông ấy! À, anh còn làm châm cứu chớ?

Tôi bật cười:

- Còn... Hừm! Hình như tôi có cảm giác là anh biết rõ tôi hơn là tôi biết về anh đó!

Anh chàng mĩm cười không một lời, chỉ tay về phía một ngọn đồi phía trước mặt:

- Đi.

Sau một hồi lội suối băng đồng, tôi đứng trước cái gọi là nhà của anh An. Thật khó định nghĩa và miêu tả cho đúng! Có thể gọi đó là cái chuồng bò hơn là một căn nhà vì chổ nào cũng "là cửa sổ và cửa chính", người ta có thể vào trong nhà anh An bằng bất cứ ngõ nào! Vách nhà gồm những mảnh tôn mỏng ghép lại. Khi có gió, lại đông đưa như muốn rớt lúc nào thì rớt! Điểm đặt biệt là cái đòn dông được đặt rất đúng hướng và rất thẳng. Nhìn lên, tôi thấy một sự tương phản rất kỳ lạ: Mái nhà còn rất tốt và mới so với sự mục nát của những mảnh tôn trên vách... Vào trong, tôi nhận thấy có rất nhiều sinh khí: Gió lạnh từ ngoài lùa vào nhà biến thành hơi ấm... Và một cảm giác rất an lành khi tôi ngồi ngay trên nền nhà bằng đất đỏ... Tất cả đều nhuộm vẻ thanh bình... Đúng là một nơi để tu hành! ... ... ...

... Sau đó anh dẫn tôi ra cái giếng và giới thiệu:

- Ông coi "ông này" (anh chỉ cái giếng) có tốt không?

Tôi thấy rằng giếng rất sâu và nước trong veo rất tốt.

Rồi anh lại dẩn tôi đi giới thiệu từng cây cà phê trong vườn, anh nói:

- "Ông này" ra trái rất sai, còn "ông này", anh coi...!

Anh vén những lá cà phê xanh um, bóng lưởng và to bằng cái nón ra cho tôi thấy từng chùm trái nặng trĩu. Tôi kinh ngạc khi thấy rằng nguyên vùng Định An, chĩ nhà anh là có vườn cà phê lý tưởng như vậy thôi! Ngay cả cây cà phê của người hàng xóm được trồng ngay cạnh vườn anh cũng èo uột và cháy lá!!! Tôi hỏi:

- Anh dùng phân gì mà tốt như vậy?

Anh trả lời một cách gọn lỏn:

- Chỉ có dùng nước giếng đó thôi!

Thật khó tin, nếu tôi không được biết sơ qua tình cảnh gia đình anh. Vào lúc tôi gặp anh, anh đã có vợ và 7 đứa con đẻ năm một (chị có nét lai Ấn độ, dáng người thanh cao với cặp mắt bồ câu và một nụ cười lúc nào cũng nở trên môi ngay cả khi chị bịnh). Khi mới dời từ Đà Nẳng vào đây, anh làm nghề thợ may tuy rằng làm ăn không khá lắm, nhưng cũng đắp đổi được qua ngày. Bổng một hôm, vợ anh phát điên và đem hết vàng vòng cho thiên hạ. Buồn lắm vì tất cả gia tài dành dụm bấy lâu, bổng chốc không cánh mà bay... Ngay tối hôm đó, anh ra giữa sân ngước mặt lên trời nói to rằng:

- Nếu của đó thuộc về tôi thì xin cho trở về lại sau ba ngày. Nếu không, tôi sẽ không nghĩ tới nó nữa!

Từ đó người trong xóm thấy anh im lặng... Anh sống như một cái bóng: nửa khùng nửa điên vì thế anh có cái tên: An Điên. Nhà túng thiếu, vợ điên, con lúc nhúc nhỏ dại lúc nào cũng ốm đau và đói. Anh không một lời than vảng, lặng lẽ đi làm thuê nuôi vợ con... Có những lúc quá túng thiếu, anh đi hái rau dại mọc theo đường mương đem về luộc lên cùng với các con ăn cho qua bửa. Họ sống như vậy cho đến tám năm sau... (ngày tôi gặp anh là kết thúc 8 năm trời nhẩn nhục và chịu đựng...)

Một buổi chiều, trên đường về nhà, giữa đồi hoang núi thẳm, anh gặp một dị nhân bổng nhiên xuất hiện chỉ anh tu tập theo một pháp môn đặc biệt và giao một nhiệm vụ tối mật cho anh... Vừa vui và vừa sợ không hoàn thành nhiệm vụ khó khăn đó, anh im lặng chấp nhận và hỏi dị nhân:

- Bây giờ, con phải làm gì để sống?

Dị nhân trả lời:

- Trồng cà phê!

Thế là anh xin về đủ 100 cây cà phê trồng thành 10 hàng (vì là "cà phê cho không" nên cây thì gảy đọt, cây thì lá héo queo, đúng là thuộc loại phế thải...). Nhưng anh không nản lòng, tự tay đào cái giếng sâu 23 mét. Vào mổi đêm, sau khi đi cuốc thuê cả ngày cho người ta xong, anh còn phải gánh đủ 100 đôi nước để tưới những gốc cà phê èo uột... Thật khó có thể tưởng tượng nổi sức chịu đựng của anh trong suốt thời gian "lao động khổ sai" như vậy... Lạ lùng thay, cà phê càng ngày càng mạnh, không bị sâu rầy ăn hại, cứ một mạch xanh mược và mọc đều đặn chỉ nhờ vào có nước giếng... Dân chúng trước đó chế nhạo anh là điên khi anh khởi công trồng cà phê, thì nay đã bắt đầu chú ý đến vườn của anh. Và có người cũng bắt chước trồng thử như anh... Nhưng ở điều kiện đồi đá, họ dư biết: Làm gì cà phê có thể mọc tốt được? Và họ không hiểu tại sao cà phê của họ thì được chăm sóc kỷ lưởng, vô chân, bón phân... nhưng không thể nào mọc tốt hơn được! Thậm chí có người bạo dạng qua xin anh cho múc nhờ nước giếng để tưới nhưng cũng không khá hơn tý nào!...

Nhờ vào vườn cà phê với năng suất cao như vậy, dân chúng tưởng rằng anh sẽ sống khá hơn. Nhưng không! Tiền cà phê có bao nhiêu, anh đều gởi về xứ hết. Anh không cần gì cả! Chỉ giử lại một ít để trả nợ và người ta vẫn thấy anh đều đặn hái rau dại bên bờ mươn, và cũng rất đều đặn anh gởi tiền về xứ... Đúng là An khùng!

Nhưng anh An có khùng thật không? Tôi nghe dân làng kể lại rằng: Vào một buổi chiều đi làm thuê, anh bị lưởi cuốc xúc cán văng lên không trung, rơi xuống và cắm vào ngay đỉnh đầu... Dân làng khiêng anh về đợi anh tắt thở là đem chôn. Nhưng quái lạ! Sau một tuần nằm bất động trên vủng máu, anh tỉnh lại và đi làm bình thường. Sau tai nạn đó, anh lại to con hẳn ra, tay chân anh lại dài ra: Một gan của anh đo được 25 cm trong khi anh chỉ cao có 1,70 m. Anh nói năng chậm rải và hay dừng lại đột ngột như anh phải dịch lại từ một ngôn ngử nào đó sang tiếng Việt. Lâu lâu anh lại hỏi người đối diện: "Tôi nói như vậy anh có hiểu không"? Nói chuyện với anh, tôi gặp những chuyện ngộ nghĩnh không tưởng được:

Khi bàn về chú Đại bi anh đọc to:

- Nam mô hắc ra đá ra dạ da, nam mô a rị da bà lô kiết đế, thước bát ra da...

Tới đó anh đột ngột hỏi tôi:

- Anh có biết cây thước đó ra làm sao không?

Tôi ngạc nhiên hỏi anh lại:

- Cây thước nào?

Anh xác nhận:

- Cây thước bát ra da đó!

Tôi phì cười, nói với anh rằng:

- Không có cái thước nào cả, vì đó là lối phiên âm từ tiếng Phạn ra tiếng Trung hoa mà thôi!

Và dẩn chứng thêm rằng:

- Nam mo ratna tra ya ya, nam mo arya avalokite, svaraya... Chử "svaraya" Tàu nó phiên âm là: "Thước bát ra da" chớ không có cái thước nào hết á!

Ấy vậy mà anh nhìn tôi như là nhìn một tên giấu nghề! Sau này tôi mới biết anh rất rành địa lý. Khi rảnh rổi, anh hay băng rừng lội suối để tìm long mạch...

Một hôm, anh đang cuốc thuê, bổng nhiên anh dừng cuốc và chăm chú nhìn một người bên kia đồi cũng cặm cụi cuốc như anh. Rồi không nói không rằng, anh chạy bay qua bên đó. Vừa tới nơi, anh vừa hổn hển vừa hỏi người ta:

- Anh... bị... bịnh trỉ... hã?

Người kia kinh ngạc trả lời:

- Dạ đúng, mà... mà sao anh biết?

Không thèm để ý đến câu hỏi của người bạn, anh vội vàng tiếp:

- Ngày mai cũng vào giờ này, tôi sẽ mang thuốc cho anh, anh về cứ để tươi như vậy mà lót đít, thôi tôi về làm tiếp đây.

Rồi anh chạy một mạch về chổ củ và ra sức cuốc hết tốc lực vì đã trể hơn chủ... Tối hôm ấy thay vì về nhà với vợ đau con yếu, anh lại băng rừng, đi tìm thuốc để chữa bệnh theo lời hứa! Nghe nói rằng, anh bạn đó đã hết bệnh chỉ sau một lần lót thuốc!...

Vào một dịp thăm nuôi người anh họ bị sốt rét ác tính ở Nhà Thương trên Đà Lạt. Chỉ với cây kim băng, anh đã khều nhẹ vào hai huyệt "Địa thương" ở hai bên mép và cắt được cơn cho gần hết các bệnh nhân trong phòng sốt rét! Tới khi cô y tá phát hiện, anh bị đuổi ra ngoài và phải ngủ ngoài băng ghế một đêm. Chưa hết, khi dựa đầu vào gốc cây thông già và trong khi nữa tỉnh nữa mê anh đã "nghe được cây thông" thuật lại câu chuyện về sự thành lập Nhà Thương... Và anh chậm rải kể lại cho chúng tôi nghe:

- Bằng một giọng khàn khàn "ông ấy" kể: Cứ mổi lần có người ngồi tạm dưới bóng mát của tôi, tôi lại kể cho họ nghe về sự thành lập của ngôi Nhà Thương y như anh bây giờ. Không biết tôi đã kể đi kể lại bao nhiêu lần rồi và lúc nào tôi cũng hy vọng rằng họ sẽ nghe được và vơi đi nổi sầu để mà vui sống: Cách đây lâu lắm, một ông Cha người Pháp bận đồ đen mà sao lòng ông lại trong trắng vô cùng. Ông dừng bước lại bên tôi (lúc đó tôi còn rất non nớt) và suy nghĩ như sau:

- Đời người quả thật là khổ! Trong tất cả nổi đau khổ đó: Khổ nhất là đau bệnh mà không được chữa, và khổ hơn hết là: Nếu chữa không lành mà chết đi, linh hồn lại không nơi nương tựa... Hay là ta sẽ cất dưới chân ngọn đồi này một nơi để khám bệnh, ở giửa sẽ là nơi chữa và chăm sóc bệnh nhân mà phần cuối sẽ là nhà xác và trên hết là một ngôi Nhà Thờ, ta sẽ làm thế nào cho ba cổng đều phải thẳng hàng: Cổng khám bệnh, cổng chữa bệnh và cửa chánh vào Nhà Thờ... Và anh thấy rằng: Công trình tuy kéo dài mấy chục năm, qua nhiều biến đổi của các thời đại... Nhưng ý chính của Đức Cha người Pháp vẫn vô tình được tôn trọng... Cảm động trước ý nghĩ cao thượng đó, tôi cũng cố vươn lên, cố gắng thêm nhiều cành nhánh tạo thành một bóng mát để có thể che được cho ai đó đở nắng... Và cũng trong suốt thời gian ở đây, tôi cũng đã chứng kiến và nghe kể lại những chuyện thương tâm, những y bác sĩ với những hy sinh, tận tình với bệnh nhân; những hành động đó càng làm trắng thêm bộ y phục của họ... Nhưng, cũng không phải là ít anh à! Những hành động thật sự xấu xa, đê hèn của những người có tự tưởng kỳ lạ: Thay vì tận tâm giúp đở người bệnh, họ lại nương vào đó để làm tiền một cách trắng trợn... Tôi đứng đây ngắm nhìn những buồn vui cuộc đời đã lâu lắm rồi. Hôm nay được dịp kể lại cho anh, và củng như mọi khi, tôi hy vọng rằng anh nghe được và vững tin vào một tương lai tươi đẹp hơn... À, có lẻ ngày mai, họ sẽ cưa tôi. Và như thế, có lẻ đây là lần kể chuyện cuối cùng của tôi... Rồi "ông ấy" im bặt, "ông" không nói nữa.

Chú "Phước nhỏ" cho biết: Hồi sáng, khi đi qua Nhà Thương, chú có nghe tiếng cưa máy. Như vậy có lẻ họ đã cưa cây thông già, ngay trước sân khoa lây, để làm củi rồi...

Không biết thật hư như thế nào, vào một dịp dẩn vợ con đi xem lể ở Nhà Thờ "Domaine de Marie" Nhớ lại câu chuyện trên, tôi có đứng trên lang cang, ngay cửa chính Nhà Thờ. Nhìn về phía Nhà Thương và nhận thấy rằng: Ba cổng thật sự thẳng hàng. Kể cũng lạ...

Lại bàn về người vợ đau yếu của anh. Tuy rằng bịnh như vậy, chị vẫn mang bầu lần thứ bảy! Và dỉ nhiên trong điều kiện sức khoẻ đó, làm sao chị có thể sanh con bình thường được? Vì thế, trong khi anh đang làm thuê, dân làng lại một lần nữa chở chị lên nằm cấp cứu ở khoa sản trong bệnh viện Đà Lạt... Về nhà hay tin vợ đã "bị chở" lên bệnh viện cách đó 20 cây số! Anh bối rối qua hàng xóm mượn chiếc xe đạp và chẳng cho ai biết lý do, anh khòm lưng đạp nước rút lên Đà Lạt thăm vợ! Đúng là An khùng! Trong khi cả xóm đang chờ và chắc chắn sẽ giúp anh lên thăm vợ bằng mọi phương tiện, anh lại chọn cách khổ nhất! Tại phòng cấp cứu khoa sản, anh được bác sĩ cho biết rằng thai đã chết trong bụng mẹ rồi và hỏi anh có ký giấy chấp nhận cho họ mổ để cứu mẹ không? Mĩm cười, (đến lúc này mà anh vẫn còn cười được!) Anh bình tỉnh nói rằng anh phải về nhà hỏi ý kiến gia đình đã! Sốt ruột trước tình trạng nguy hiểm đó, một cô y tá đã hỏi:

- Vậy, anh là gì của chị này?

Anh trả lời tỉnh bơ:

- Là chồng!

Cả đám y, bác sĩ kêu trời! Sau đó có một y sinh mời anh ra ăn cái gì đó và cho anh biết rằng nếu để trể, vợ anh sẽ chết vì tim thai đã ngừng đập lâu lắm rồi! Anh từ tốn nói rằng:

- Tôi phải về hỏi ý kiến gia đình đã!

Và anh đi về thiệt, nói rằng anh sẽ trở lại đây sáng mai! Và yêu cầu y bác sĩ đừng mổ vợ anh!

Sáng hôm sau, anh vào thăm vợ rất sớm. Lừa lúc không ai chú ý, anh dùng cái mốc của dây kẽm gai đã rỉ sét và châm ngay vào huyệt Quan nguyên trên bụng vợ... Châm xong, anh ra yêu cầu với bác sĩ khám tim thai lại. Bác sĩ la rầy anh một trận rồi miển cưởng lấy ống nghe ra, nghe lại nhịp tim thai: Và kỳ diệu thay! Bác sĩ kinh ngạc tuyên bố trước đám y sinh:

- Tim đã đập lại bình thường! Sau hai ngày (48 giờ) ngưng đập!

Bác sĩ khám thai là một Bác sĩ đầy kinh nghiệm và dư thừa lương tâm[***]

Tất nhiên tôi ở lại với anh tới ngày thứ hai, trong khi hai anh em đang bàn về châm cứu và biểu diển nội công cho nhau xem, bất ngờ anh nói tôi:

- Về đi! Vợ anh tìm anh khắp Đà Lạt đó.

Tôi e ngại nhìn anh, vì tôi cũng như anh: Tôi không có tiền! Hiểu ý, anh trấn an:

- Để tôi đón xe cho!

Vậy là, hai tên nghèo đói ra đón xe đò lên Đà Lạt! Trong khi không có một xu dính túi! Lội núi băng đồng một lúc, hai anh em ra được Quốc lộ 20. Tình trạng xe rất khang hiếm vì không có đủ xăng chạy, và khi xe hư lại không có đồ phụ tùng thay thế nên ngay cả vào lúc xế chiều, dân chúng vẫn còn đón xe rất đông ở hai bên đường. Khi thấy từ xa bóng xe đò đang từ từ tiến đến, họ reo hò mừng rở vẩy tay đón. Khi nghe tiếng xe, anh từ từ đứng lên. Từ xa, tôi nhận thấy có ba đám người cùng vẩy tay, nhưng xe vẫn chạy qua họ như không thấy! Tôi thất vọng nhìn anh, và thấy anh nhìn chăm chăm vào chiếc xe và chỉ với một cái vẩy tay: Xe thắng lại! Và trước sự kinh ngạc của tôi, anh đẩy tôi lên chiếc xe buýt "Ka rô sa" mới cắt chỉ của Tiệp Khắc có biểu ngử: "Xe tham quan Đà Lạt, Công nhân tiên tiến Bến Tre". Nên nhớ rằng, vào những năm 1989, xe tham quan không bao giờ đón khách dọc đường! [***]

Tôi lên xe nhìn quanh và thấy rằng không còn một chổ trống nào, nên tôi ngồi đại trên bực than cấp của xe buýt. Khi đã an tọa, xe liền lăn bánh... Trong suốt đoạn đường dài 20 cây số, không ai hỏi tôi câu nào, mặc dù trên xe có tới ba ông lơ! Và nếu để ý, tôi thấy tất cả hành khách cũng đều im lặng... Bác tài tự động ngừng xe lại tại bồn binh Thủy Tạ, cửa tự động mở, tôi vội vàng xuống xe, và không một lời chào hỏi và cám ơn, xe lại lăn bánh vào thành phố Đà Lạt... Kỳ lạ hơn nửa chỉ có một mình tôi xuống tại chổ đó mà thôi...

Về đến nhà, nếu tôi không có trái bầu và một nải chuối già làm chứng thì vợ tôi không bao giờ tin vào câu chuyện này cả!

Sau này, tình cờ tôi được biết anh tu thành Rồng (chúng tôi có chụp một tấm hình khi anh cao hứng hiện ra trên mây cho chúng tôi coi). Và cũng trước khi tôi qua Mỷ, anh đã thay đổi quan điểm: "Từ chổ chê loài Người quá tham" sang "tuy vậy cũng có Người làm được việc" khi thấy cô Vân tu thành công và có nói lại công thức chửa bệnh bằng cách đeo ngọc nơi luân xa Anahata (huyệt Ngọc Đường). Và cũng vì nhân duyên đó, anh đã khởi sự sám hối. Trong khi sám hối, anh đã nằm mơ thấy được Ba Mái anh và nghe kể lại rằng được Ba Mái khen thưởng... Từ người, anh đã tu thành rồng (vốn là một linh vật), tới khi gặp tôi anh mới chịu nghe lời sám hối và chập chững tu theo cách của chúng tôi... Như vậy tuy rằng trể, nhưng chưa muộn... ...


← Quay lại